Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, hiếm có bậc trí thức nào hội tụ đầy đủ trí tuệ uyên bác, khí tiết thanh cao và tấm lòng yêu nước sâu sắc như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Quần thể tượng tái hiện cảnh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi rời chốn quan trường về quê, được nhân dân yêu mến, đón chào.
Bậc đại nho của thế kỷ 16
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491 tại làng Trung Am, nay thuộc xã Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng). Ông lớn lên trong bối cảnh đất nước nhiều biến động, triều chính rối ren, xã hội phong kiến bước vào giai đoạn suy thoái. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nổi tiếng thông minh, ham học và sớm bộc lộ tư chất hơn người.
Năm 1535, ông đỗ Trạng nguyên dưới triều Mạc, được bổ nhiệm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình. Với bản tính cương trực, không chấp nhận thói xu nịnh, tham nhũng và suy đồi đạo đức của tầng lớp quan lại đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều lần can gián vua, đề xuất cải cách để chấn chỉnh triều chính, chăm lo đời sống nhân dân.
Khi những lời can gián không được tiếp thu, ông lựa chọn rời bỏ chốn quan trường, trở về quê nhà, mở trường dạy học, sống cuộc đời thanh bạch. Quyết định “treo ấn từ quan” ấy không phải là sự thoái lui trước thời cuộc, mà là một biểu hiện của khí tiết, của bản lĩnh giữ trọn nhân cách giữa thời loạn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm được hậu thế kính trọng không chỉ bởi đức độ mà còn bởi trí tuệ uyên bác và tư duy triết lý sâu sắc. Ông am hiểu Nho - Phật - Lão, vận dụng tinh hoa của các học thuyết phương Đông để xây dựng cho mình một hệ tư tưởng nhân sinh vừa thấm đẫm đạo lý truyền thống, vừa gần gũi với đời sống nhân dân. Thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không cầu kỳ, kiểu cách, mà mộc mạc, giản dị, song ẩn chứa nhiều suy ngẫm sâu xa về con người, xã hội và thiên nhiên. Những câu thơ của ông như: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao” là lời phê phán kín đáo đối với thói bon chen, danh lợi của xã hội đương thời.

Nhiều trường học tổ chức đưa học sinh đến tham quan đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Với Trạng Trình, trí tuệ không chỉ để mưu cầu công danh, mà trước hết là để hiểu đời, hiểu người và giữ trọn đạo làm người. Ông coi sự thanh thản của tâm hồn, sự hòa hợp với thiên nhiên và đạo lý nhân nghĩa mới là nền tảng của hạnh phúc bền lâu.
Tại quê nhà, ông mở trường dạy học, đào tạo nhiều thế hệ học trò ưu tú, trong đó có những nhân vật lịch sử quan trọng sau này như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Đinh Thời Trung, Nguyễn Dữ… Ông không chỉ dạy chữ, mà còn dạy đạo làm người, rèn luyện nhân cách, lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm với xã hội.
Lòng yêu nước thầm lặng, sâu sắc

Am Bạch Vân là nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy học cho nhiều thế hệ, bậc hiền tài của đất nước.
Không ồn ào, không phô trương, lòng yêu nước của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện qua sự trăn trở trước vận mệnh dân tộc và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân nghĩa.
Trong thơ văn, ông luôn hướng tới hình ảnh một đất nước yên ổn, nhân dân no ấm, thiên nhiên hài hòa. Ông ca ngợi cuộc sống lao động giản dị, mong ước mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, xóm làng yên vui. Với ông, hạnh phúc của nhân dân chính là thước đo giá trị của mọi chính sách và mọi triều đại.
Nguyễn Bỉnh Khiêm không chọn con đường binh đao hay tranh giành quyền lực để thể hiện lòng yêu nước. Ông yêu nước bằng trí tuệ, bằng giáo dục, bằng việc giữ gìn và lan tỏa những giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc.
Ông luôn gần gũi với nhân dân, cảm thấy nỗi đau khổ của dân cũng là nỗi đau khổ của mình. Suốt đời ông ôm ấp một nguyện vọng là trên đất nước thân yêu của mình xuất hiện một xã hội thái bình, thịnh trị. Xã hội đó dưới ngòi bút của ông, với những hình ảnh trong thơ văn đã hiện lên những đường nét và màu sắc tươi tắn: “Giang sơn tám bức là tranh vẽ/ Hoa có tứ mùa gấm thêu”.
Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại cho dân tộc không chỉ là những áng thơ văn, mà còn là một hệ giá trị đạo đức sâu sắc: sống nhân nghĩa, trọng trí tuệ, giữ khí tiết, yêu nước bằng hành động thiết thực.
Tư tưởng hòa hợp giữa con người với thiên nhiên của ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nhất là trong bối cảnh hiện đại, khi con người đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường, lối sống và đạo đức xã hội. Sự giản dị, thanh sạch, hướng thiện của Trạng Trình là lời nhắc nhở về một cách sống bền vững, nhân văn.
Đối với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam hôm nay, hình ảnh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là tấm gương sáng về nhân cách trí thức: dấn thân bằng trí tuệ, phụng sự xã hội bằng giáo dục và giữ vững đạo lý trong mọi hoàn cảnh. Ông vẫn hiện diện trong đời sống tinh thần của người Việt như một biểu tượng của trí tuệ, khí tiết và lòng yêu nước. Đó là hình ảnh của người trí thức không chạy theo danh lợi, mà chọn con đường phụng sự bền bỉ và lặng thầm.
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên húy là Nguyễn Văn Đạt. Ông là danh nhân văn hóa, nhà thơ lớn, nhà giáo, bậc sư biểu được người đời tôn vinh. Không chỉ là vị Trạng nguyên triều Mạc thế kỷ 16, tên tuổi, tầm vóc, những thành tựu của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm còn âm vang mãi đến muôn đời. Ngày 31/7/2023, Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng (cũ) công bố Quyết định số 2195/QĐ-UBND về việc thành lập Ban vận động UNESCO vinh danh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân kỷ niệm 450 năm ngày mất của ông (1585 - 2035). Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm toạ lạc ở thôn Trung Am, được xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2015 (tại Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015 ).
Nguồn: https://baohaiphong.vn/trang-trinh-nguyen-binh-khiem-bieu-tuong-cua-tri-tue-khi-tiet-va-long-yeu-nuoc-dat-dao-532955.html